BA CƠ HỘI THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC VÀ HÒA HỢP DÂN TỘC MÀ NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐÃ BỎ QUA (P1)
Trong lịch sử Việt Nam hiện đại từ ngày 2
tháng 9 năm 1945 đến nay, chỉ có chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà sau này
là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chính thể duy nhất do toàn dân Việt
Nam xây dựng lên. Chính thể ấy là kết quả của cuộc cách mạng toàn dân tộc lật đổ
ách thống trị của thực dân, đế quốc và bè lũ Việt gian tay sai của chúng.
Chính thể ấy ra đời từ một cuộc cách mạng giải
phóng giống như Cách mạng Mỹ 1776, Cách mạng Pháp 1789, Cách mạng Tháng Mười
Nga 1917 chứ không phải nhờ đến một thế lực ngoại bang nào ban cho nền độc lập,
tự chủ hay một thế lực “bề trên” ban cho tự do, dân chủ, bình đẳng… Và chính thể
ấy luôn hàng động vì quyền lợi của toàn thể dân tộc Việt Nam chứ không vì bất cứ
một cá nhân nào, phe phái nào.
Còn những chính thể khác trên lãnh thổ Việt
Nam sau năm 1945 đều được nước ngoài tạo dựng và giật dây để phục vụ cho lợi
ích của đế quốc, thực dân, của ngoại bang xâm lược. Có thể kể ra đây Quốc gia
Việt nam (do Pháp dựng lên năm 1949), Việt Nam Cộng hòa (do Mỹ dựng lên năm
1955) cho đến các chính phủ bù nhìn lưu vong mà mới đây nhất có cái gọi là
“Chính phủ lâm thời đệ tam Việt Nam cộng hòa” do Đào Minh Quân cầm đầu ở Mỹ được
CIA dựng lên và là một tổ chức khủng bố.
Ngày thống nhất non sông 30-4-1975 đã khẳng định
một điều: Không có chuyện miền Bắc chiến thắng miền Nam mà chỉ có chiến thắng của
dân tộc Việt Nam trước đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Bởi vì đã từ năm
1945 và từ rất lâu trước đó, “Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.
Thế nhưng có một bộ phận người Việt Nam lại
không học được chân lý ấy. Có những kẻ học theo cách hành xử của các “quân tử
Tàu”, thích cát cứ phong kiến, thích làm vua một vùng, thích… đủ thứ ! Có những
kẻ học đòi phong cách lãng tử Pháp đem sở thích cá nhân đặt lên trên sự bình đẳng
về quyền lợi của đồng loại. Và cũng có cả những kẻ học đòi thói “cowboy” Bắc Mỹ
và cho đó là thứ tự do nhất trần đời, tự do bắn giết, tự do làm đĩ và tự do xâm
phạm quyền tự do của người khác, của dân tộc khác.
Chính vì thói vọng ngoại đế dị hợm như vậy mà
trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, những kẻ “chống Cộng đến cùng” đã có ít nhất
ba lần quay lưng lại với cơ hội thống nhất đất nước và hòa hợp dân tộc. Chúng
đã bất chấp việc những người Cộng sản Việt Nam đã chìa bàn tay đề nghị hợp tác,
cùng nhau hành động vì mục tiêu chung của cả dân tộc là độc lập, tự do, hòa bình,
hạnh phúc để phục vụ ngoại bang, vứt bỏ quyền lợi của nhân dân chỉ vì bản thân
chúng.
1- Lần thứ nhất: Nói đến chống Pháp, kẻ nào
cũng to mồm nhưng đều vô dụng.
Cách mạng tháng Tám do Đảng Cộng sản Đông
dương đứng ra tổ chức, hiệu triệu toàn dân Việt Nam vùng lên đánh cho Pháp chạy,
đánh cho Nhật hàng để thành lập một chính quyền của riêng người Việt nam, đứng
ra đó tiếp quân đồng minh vào giải giới quân Nhật bại trận. Ở thời điểm đó, nhiều
quốc gia phải nhờ đến lực lượng quân sự hùng mạnh của các đồng minh chống phát
xít như Liên Xô, Mỹ, Anh và cả Pháp nữa mới làm được điều đó. Còn người Việt
Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương thì đã đem sức ta mà tự giải
phóng cho ta.
Lẽ ra trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của
nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa ngày 6-1-1945, những người Cộng sản Việt Nam
hoàn toàn có đủ uy tín và sức mạnh để có vị trí xứng đáng trong một chính quyền
dân chủ nhân dân đầu tiên của đất nước. Thế nhưng những thế lực cơ hội chính trị
bám gót ngoại bang đã núp bóng sức mạnh quân sự của ngoại bang để lớn tiếng đòi
cho chúng có những vị trí trong Quốc hội mặc dù chúng không hề có một chút mảy
may đóng góp vào cuộc Cách mạng Thánh Tám giành chính quyền về tay Nhân Nân Việt
Nam.
Đó là Đại Việt quốc dân đảng (thường gọi là “đảng
Đại Việt”) theo chủ thuyết “dân tộc sinh tồn”, hực chất là chủ nghĩa dân tộc hẹp
hòi do Trương Tử Anh cầm đầu. Dưới sự bảo trợ của OSS (tiền thân của CIA), tổ
chức này theo gót quân Anh-Pháp, mượn danh nghĩa giải giới quân phát xít Nhật
vào chiếm đóng miền Nam Việt Nam (phía Nam vĩ tuyến 16). Đây là tổ chức chống Cộng
phản động nhất ở Việt Nam khi đó và là mầm mống sinh ra quái thai “Chủ nghĩa quốc
gia” của chính quyền ngụy Sài Gòn sau này.
Đó là Việt Nam cách mệnh đồng minh hội (thường
gọi là “Việt cách”) cũng là một tổ chúc bám gót quân Quốc dân Đảng Trung Hoa do
“thầy bói” Nguyễn Hải Thần (tên thật là Võ Hải Thu cùng các bí danh khác là
“Nguyễn Cẩm Giang” và “Nguyễn Bá Tú”) cầm đầu. Đó là tổ chức cơ hội chính trị
nhân Cách mạng tháng Tám thắng lợi để “tranh phần công lao” và chống đối cả
Pháp lẫn Việt Minh như “Đảng Dân Xã” của Huỳnh Phú Sổ và Nguyễn Bảo Toàn (tức
Nguyễn Hoàn Bích) cầm đầu ở Nam Bộ. Đó là Việt Nam Quốc dân đảng (thường gọi là
“Việt Quốc”), vốn tập hợp những phần tử suy thoái chính trị sau khi khởi nghĩa
Yên Bái bị thực dân Pháp đàn áp chạy sang Trung Quốc nương nhờ quân Quốc dân Đảng
Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch, nay theo quân Tưởng vào Việt Nam với danh nghĩa
giải giáp quân phát xít Nhật, phục vụ chính sách “Hoa quân nhập Việt” của Tưởng
Giới Thạch.
Trong điều kiện chính quyền cách mạng còn dang
trong thời kỳ “trứng nước” lại phải đối phó với giặc ngoài từ nhiều phía cũng
như sự phân rã chính trị trong nội bộ đất nước, Đảng Cộng sản Đông Dương đã
tuyên bố tự giải tán nhưng thực chất chỉ là để “không tham gia chính trường về
danh nghĩa”, chỉ để lại “Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác” làm tổ chức hoạt động
công khai trong khi Mặt trận Việt Minh vẫn thay mặt Đảng hoạt động công khai.
Mặt trân Việt Minh đã có một bước nhượng bộ rất
lớn khi tuyên bó “nhường” cho Việt Quốc, Đại Việt và Việt Cách 70 ghế trong Quốc
hội không qua bầu cử (được coi như đại biểu đương nhiên). Đó là lần đầu tiên,
những người Cộng sản Việt nam chìa bàn tay hợp tác với các lực lượng đối lập
sau Cách mạng Tháng Tám-1945 với niềm tin và hy vọng rằng các đối tác sẽ chung
tay xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân để đấu tranh vì nền độc lập của Tổ Quốc.Tuy
nhiên, niềm tin ấy đã bị phản bội. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tái
xâm lược Nam Bộ, các đối tác của Mặt trận Việt Mình đã không hề có một tiếng
nói ủng hộ cuộc kháng chiến vừa bùng nổ mà chỉ nhăm nhăm lo cho quyền lợi của
mình khi cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên sắp diễn ra. Và sau khi Chính phủ Việt
nam Dân chủ Cộng hòa vì muốn giảm bớt xung đột ở Nam Bộ, chọn con đường đàm
phán để cứu vãn hòa bình bằng Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1945 thì cả Việt Quốc,
Việt Cách lẫn Đại Việt đều lớn tiếng buộc tội Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là “bán nước”; trong khi chúng không hề đóng góp một phần dù là hết sức nhỏ
vào công cuộc gìn giữ nền độc lập bằng biện pháp ngoại giao.
Nguyễn Hải Thần đã từ bỏ công vụ và trốn sang
trung Quốc. Cố vấn Vĩnh Thụy (tức cựu hoàng Bảo Đại) cũng trốn tránh trách nhiệm
và chọn cách tạm lưu vong ở Hồng Công (Trung Quốc). Ghê gớm hơn nữa, Trương Tử
Anh cùng bè đảng Đại Việt còn móc nối với thực dân Pháp âm mưu dàn dựng một vụ
ném lựu đạn vào lính Pháp duyệt binh mừng Quốc khánh Pháp (14-7-1946) để quân
Pháp lấy cớ làm cuộc “chính biến” lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bắt
giam Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn bộ phái đoàn Việt Nam đang đàm phán ở Hội nghị
Fontelnebleaut. Nếu không có sự quyết tâm của Phó Chủ tịch chính phủ Huỳnh Thúc
Kháng, sự tinh tường của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp và sự mưu trí của
các chiến sĩ an ninh Việt Nam khi phá vụ án Ôn Như Hầu ngày 12-7-1946 thì Cách
mạng Việt Nam có lẽ đã diễn biến theo một chiều hướng bi đát hơn rất nhiều.
Sau vụ này, thực dân Pháp cũng lờ tịt đi chuyện
“xin phép diễu binh”. Còn phía Việt Minh thì thừa hiểu tai sao lại như vậy. Và
cũng là dễ hiểu khi Phan Huy Quát, một trong các “lãnh tụ có máu mặt” của Đại
Việt quốc dân đảng đã công khai đứng về phía thực dân Pháp và năm 1949, y được
giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng trong chính quyền bù nhìn của Bảo Đại. Đến năm
1965, Phan Huy Quát còn làm Thủ tướng trong cái gọi là “Đệ nhất Việt Nam Cộng
hòa” ở Sài Gòn sau khi Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị đế quốc Mỹ “thí ngựa giữa
dòng”.
Nhưng
điều quan trọng hơn cả là đây là lần đầu tiên, các thế lực cơ hội chính trị đội
lốt chủ nghĩa dân tộc đã chối bỏ sự hợp tác với những người Cộng sản Việt nam để
bảo vệ nền độc lập mà Dân tộc Việt Nam phải tốn biết bao xương máy sau gần 100
năm mới giành lại được. Sự ích kỷ hẹp hòi của họ đã đi ngược lại quyền lợi của
dân tộc, quay lưng lại với đồng bào mình để bắt tay với đế quốc thực dân, mong
cầu một quyền lợi ích kỷ cho bản thân và nhóm cơ hội chính trị của mình.
Nhận xét
Đăng nhận xét