Tôi không biết có “công cụ” nào để đo “lòng
yêu nước” hay không. Ví dụ như, anh A yêu nước hơn anh B 1.000.000 gram chẳng hạn.
Vậy nên, cũng sẽ khó để nói rằng, ai yêu nước hơn ai. Tranh luận về lòng yêu nước,
có lẽ nên gọi thẳng hành vi, chỉ thẳng thái độ và ngôn từ, đồng thời, chỉ rõ những
“ẩn ý” của ngôn từ… thì sẽ rõ ràng hơn về cái gọi là: “Yêu nước”.
Về khái niệm: Yêu nước là gì?
Thật khó mà định nghĩa một cách trọn vẹn về
khái niệm “yêu nước”. Song, ở khái niệm mở rộng: “Chủ nghĩa yêu nước” thì cho
chúng ta những khái quát như sau:
Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc) biểu
hiện quan điểm tích cực về quê hương, đất nước hay cội nguồn của một cá nhân
hay tập thể, trong đó quê hương có thể là một vùng, một thành phố nhưng thông
thường thì khái niệm này gắn với khái niệm quốc gia. Nó gồm những quan điểm
như: tự hào về thành tựu hay văn hóa của quê hương, mong muốn được cống hiến hết
mình cho quê hương đất nước, cho đi mà không cần báo đáp hay nhận lại, mong muốn
bảo vệ những đặc điểm đó, đồng hóa mọi thành viên của quốc gia.
Vậy, chúng ta có thể khái quát tóm lược về
“lòng yêu nước” là: “tình yêu đối với quê hương, đất nước; nỗ lực cố gắng không
ngừng để dựng xây và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh hơn. Lòng yêu nước
là tình cảm cao cả, thiêng liêng của mỗi người dành cho quê hương đất nước. Đó
là yêu sông, yêu núi, yêu làng, yêu xóm, yêu người dân sống trên mảnh đất hình
chữ S. Tình cảm ấy đơn giản, gần gũi và nằm ngay trong lời ăn tiếng nói hằng
ngày của mỗi người”.
Nói như vậy, để thấy được rằng: nếu giá trị mỗi
người chúng ta tăng lên mỗi ngày, đó cũng là giá trị đất nước tăng lên mỗi
ngày. Thế thì biết làm cho giá trị của mỗi người chúng ta tăng lên mỗi ngày, đó
là lòng yêu nước.
Ngắn gọn hơn, yêu nước phải bao gồm lòng biết
ơn và báo ơn đất nước.
Khái niệm là như vậy… mỗi người tự soi để xem
thử, chúng ta “yêu nước bao nhiêu”….
Hôm nay, tại sao mình lại đề cập đến một khái
niệm “mông lung” như vậy?
Bởi đơn giản, những ngày qua, khi TQ đang gây
hấn với các quốc gia trong khu vực có liên quan đến Biển Đông, thì có vẻ dường
như, lòng yêu nước của các nhân sĩ trí thức, các anh chị tinh bông, lại trỗi dậy
mạnh mẽ đến vô thường… nên, đành phải ngồi xuống, biên vài chữ, tuy dài dòng,
nhưng khó mà viết ngắn hơn được.
Có lẽ chúng ta đang biết rằng, có một chủ đề
“lớn” đang tranh luận nảy lửa trên cõi mạng những ngày qua, đó là việc tranh
cãi xung quanh cái “công hàm 1958” của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi cho TQ.
Quay lại với lịch sử….
Hôm qua, mình có viết một tút, nhắc đến vấn đề
chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…. Có vài anh bạn vào nhắc mình
2 việc:
- Thứ nhất, tuyên bố của Thủ tướng kiêm Ngoại
trưởng Trần Văn Hữu thuộc Chính phủ Bảo Đại – khách mời của Hội nghị San
Francisco về chủ quyền của Quốc gia Việt Nam đối với hai quần đảo này.
- Thứ hai, Công hàm của Cố Thủ tướng kiêm Bộ
trưởng Bộ Ngoại Giao nước VNDCCH gởi cho TQ năm 1958.
Và lập luận của những người “nhắc” mình rằng:
phải thừa nhận sự “chính danh” của hai chính phủ: Quốc gia Việt Nam (được Pháp
dựng lên năm 1948 do Bảo Đại làm Quốc trưởng) và Việt Nam Cộng hoà (do Ngô Đình
Diệm làm tổng thống), thì mới đủ chứng cứ pháp lý để đấu tranh đòi chủ quyền
cho hai quần đảo này.
Bắt đầu vào phần biện chứng:
Vấn đề thứ nhất: phát ngôn của ông Trần Văn Hữu.
Nói cụ thể hơn một chút, Trần Văn Hữu được Bảo
Đại chỉ định làm Thủ tướng, kiêm Ngoại trưởng Quốc gia Việt Nam trong khoảng thời
gian từ 1950-1952. Đây là chính phủ bù nhìn do Thực dân Pháp lập nên vào năm
1948, nhằm “hợp thức hoá” việc “cai trị Việt Nam”, theo “tinh thần chủ nghĩa thực
dân mới” – nghĩa là dùng người Việt cai trị người Việt. Song, có lẽ sự bất tài
của chính phủ này – một chính phủ được lập nên, nhưng không được quyền điều
hành quân đội, không được quyền điều hành ngân khố, không có Bộ An Ninh, không
có Bộ Giáo dục, không có Bộ Y Tế - và đặc biệt, KHÔNG CÓ HIẾN PHÁP, thì có được
gọi là “một chính phủ hợp hiến” hay không? Tuy hỏi, nhưng mà đã trả lời. Vậy
thì, nó có thể được gọi là “chính danh” hay không? Hỏi tiếp, nhưng đã trả lời
luôn rồi. Vậy nên, đừng ai cố gắng đào những thây ma này lên, để buộc thế giới
công nhận tính chính danh. Bởi làm như vậy, có nghĩa là: hàng triệu con người
Việt Nam đã đổ máu cho nền độc lập dân tộc hôm nay là vô nghĩa. Đừng NHÂN DANH
LÒNG YÊU NƯỚC.
Năm 1951, tại hội nghị San Francisco, mang
danh nghĩa là 51 quốc gia / vùng lãnh thổ tham dự. Trong đó có 3 nước Đông
Dương là Campuchia, Lào và Quốc gia Việt Nam. Nhưng, hãy nhớ rằng, đại diện hợp
pháp được cất tiếng nói trên bàn nghị sự để thương lượng là nước Pháp với tên gọi
chung là Khối Liên hợp Pháp. 3 chính phủ bù nhìn thuộc khối Liên hiệp Pháp tham
dự này với tư cách “khách mời” – nói một cách cho sang… nếu không muốn nói là:
đi xách cặp cho Mẫu Quốc Pháp – không hơn không kém.
Đọc cái đoạn “bình luận” của các nhà yêu nước
nguyên văn: vì danh sách các quốc gia được phát biếu xếp theo thứ tự ký tự a b
c, nên Việt Nam bị xếp cuối cùng, và ông Hữu phát biểu cuối cùng trong hội nghị,
trong đó tuyên bố chủ quyền lên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa… và cả hội
nghị không có ý kiến phản đối.
Thưa các anh chị, cho dù là thiên tài hùng biện
đi chăng nữa, cũng không thể nào đủ tư duy để đưa ra những vấn đề nguỵ biện như
câu nói trên của các anh chị. Bởi vì:
- Tính chính danh tại Hội nghị là Khối Liên hiệp
Pháp do Người Pháp làm đại diện. Vậy nên, các phát biểu của các “vùng lãnh thổ”
thuộc khối liên hiệp chỉ mang tính chất “tham vấn”. Có nghĩa là có hoặc không
có sự quan tâm cũng chẳng hề hấn gì… và điều hiển nhiển nhất là trong kết luận
của Hội nghị, không có ghi lại “lời tuyên bố” này.
Giá trị pháp lý quốc tế chỉ nằm trong văn bản
chính thức, được tất cả các quốc gia tham gia hội nghị được ký vào đó. Và rõ
ràng, trong kết luận của Hội nghị, khi “buông lỏng” tính “vô chủ” đối với Biển
Đông, không có bất cứ điều khoản nào nói cụ thể quốc gia nào là chủ sở hữu… mà
ông Hữu vẫn đặt bút ký vào văn kiện đó à? Vậy, hoá ra lời tuyên bố của ông ta
chẳng khác gì là lời nói bâng quơ…. Giờ các anh chị “khai quật” lại, để nhằm áp
đặt sự “thừa nhận về tính chính danh” cho cái thây ma Quốc gia Việt Nam à?
- Ngay trong câu nói trên, các anh chị đã “nguỵ
biện” giúp ông Hữu rằng, vì Việt Nam vần v nên bị phát biểu cuối cùng… nên lời
phát biểu của Ông Hữu không có ý kiến phản đối nào…. “Không phản đối” chẳng lẽ
lại đồng nghĩa với việc “thừa nhận” đúng?
Cái logic kiểu: Chó ăn thịt và ăn cứt, Mèo
cũng ăn thịt nên mèo cũng ăn cứt? hay Chó ăn thịt và ăn cứt, Mèo cũng ăn thịt,
nên Mèo có thể cũng là chó?
Logic gì kỳ vậy các anh chị?
Vấn đề thứ hai: Công hàm 1958
Tôi vẫn thích nói dài dòng, và luôn bắt đầu từ
“gốc” – tức khái niệm.
Đầu tiên, ta hiểu hai chữ: Công hàm nghĩa là
gì?
Không khó để tìm ra định nghĩa cho hai chữ
này. “Công hàm là Văn kiện ngoại giao chính thức của Chính phủ hoặc bộ ngoại
giao gửi cho chính phủ hoặc bộ ngoại giao của nước khác với nội dung trao đổi,
thông báo, yêu sách hay phản đối hoạt động, sự kiện hoặc vấn đề nào đó có liên
quan hoặc cả hai cùng quan tâm”.
Vậy Công hàm có tính “pháp lý” như thế nào?
Từ khái niệm trên, không khó để nhận ra rằng:
NÓ CHẲNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ gì cả. Bởi, nó chỉ là văn kiện trao đổi thông tin
mà thôi.
Trong quan hệ quốc tế. Giữa hai quốc gia, nếu
đồng thuận bất cứ vấn đề nào… thì sẽ phải có “hội nghị thương thảo” giữa hai
bên. Và kết thúc là VĂN KIỆN có CHỮ KÝ của cùng cả hai bên, về những nội dung
thương thảo, thì khi ấy, “văn kiện” ký kết mới có giá trị.
Nó giống như văn kiện “tuyên bố San Francisco
về các vùng lãnh thổ do Nhật chiếm đóng được ký kết năm 1951… mà trong đó, đã
“bỏ lửng” chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vậy. Nó là văn kiện quốc
tế có giá trị pháp lý cụ thể.
Nhận xét
Đăng nhận xét