6- Không bao giờ chấp nhận
hy sinh tính mạng con người và không bao giờ bỏ mặc con người cho dịch bệnh.
Giờ đây, đó là “LỜI THỀ
HIPOCRAS” không chỉ của các bác sĩ, y tá, cán bộ, nhân viên y tế Việt Nam mà
còn là lời thề của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chính phủ, của Nhân dân Việt Nam
và các lực lượng vũ trang Việt Nam trước các làn sóng dịch từ tứ phía đang tấn
công đất nước.
Trong một cuộc họp với Giám
đốc quốc gia WHO tại Việt Nam, khi được WHO cho biết một số nước đã “sớm thoái
chí” khi đề ra phương án “trì hoãn đỉnh dịch” để giảm thiểu thiệt hại, nghĩa là
tập trung chữa trị cho những bệnh nhân “có nhiều tiềm năng hồi phục” để giảm bớt
số tử vong, số còn lại để “COVID-19 chết theo bệnh nhân”, đồng thời qua đó sẽ
làm cho con người tự tạo ra kháng thể; đại diện Bộ Y tế Việt Nam đã thẳng thừng
bác bỏ phương án này và cho đó là phương án vô nhân đạo.
Quan điểm đối phó với
COVID-19 của Chính phủ Việt Nam trước sau như một là phát hiện từ sớm, ngăn chặn
từ xa, bao vây kịp thời, cô lập kiên quyết, huy động mọi nguồn lực để điều trị
tích cực, cứu sống người dân cho đến những bệnh nhân cuối cùng và dập tắt dịch
bệnh một cách triệt để. Ngay cả sau khi dịch bệnh đã được kiểm soát, Việt Nam vẫn
tiếp tục tiến hành các biện pháp phòng vệ nghiêm ngặt, đề phòng dịch bệnh tái bùng
phát. Đại diện WHO ở Hà Nội đã hoàn toàn đồng ý và hoan nghênh quan điểm cũng
như cách thức đối phó với COBID-19 của Chính phủ Việt Nam. Ông cũng cho biết
nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia Châu Á đã và đang áp dụng những
kinh nghiệm và biện pháp phòng chống dịch của Việt Nam để đối phó với COVID-19
tại đất nước của họ.
Cách xử lý của Nhóm tư vấn y
tế cho Boris Johnson như các ông Patrick Vallance và David Haler là “thả nổi đỉnh
dịch”, nói trắng ra là thả nổi COVID-19, để nó hoành hành cho đến khi lớp người
trẻ ở Anh tự tạo ra kháng thể miễn nhiễm. Và như thế là không phải tốn một xu,
nước Anh vẫn sẽ có một nguồn lao động trẻ, khỏe; còn hơn là phải bỏ ra hàng chục
tỷ Bảng Anh để ngăn chặn dịch mà kết quả là không thể biết trước được. Họ lập
luận như vậy đấy !
Từ lâu, người ta đã bảo rằng
người Anh rất “keo kiệt”, “bủn xỉn”. Và lần này thì quả không sai ! Nhưng quan
trọng hơn là cách xử lý “thả nổi đỉnh dịch” đã nhuốm màu sắc xám xịt của học
thuyết “Quá tải dân số” (còn gọi là “Thuyết nhân mãn”) do một người Anh chính cống
là Thomas Robert Malthus (1766-1834) đưa ra. Ban đầu, đó chỉ là một nghiên cứu
về sự quá tải dân số trên trái đất. Tuy nhiên Malthus cho rằng loài người không
có khả năng tự khắc phục hiện tượng quá tải dân số và phải cần đến sự chọn lọc
tự nhiên như thiên tai, dịch họa và thậm chí cả chiến tranh. Đến thế kỷ thứ XX,
các giới quân phiệt diều hâu ở nước Đức phát xít đã lợi dụng “Học thuyết
Malthus” để biện hộ cho chiến tranh xâm lược toàn thế giới và cho thuyết “Chủng
tộc Arian thượng đẳng” của Adolf Hitller. Tập đoàn diệt chủng Đức phát xít cho
rằng chiến tranh với số người chết vài chục triệu có thể làm giảm sự quá tải
dân số, chỉ giữ lại những “chủng tộc ưu việt”. Cả nhà thờ Cơ đốc giáo và những
người Cộng sản đều coi học thuyết Malthus là học thuyết phản nhân văn không
khác gì sự huyễn hoặc về một “chủng tộc Arian thượng đẳng” của trùm phát xít
Adolf Hitler. Thật không ngờ rằng ở nước Anh đến nay vẫn còn có những người tư
duy theo xu hướng phản nhân văn này.
Tuy nhiên, Anh không phải là
quốc gia duy nhất trên thế giới có dân số già. Hầu như toàn bộ các nước Tây Âu
và Bắc Mỹ đều ở tình trạng dân số già. Ở Châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng
trong tình trạng tương tự và Nga cũng đang đứng trước nguy cơ đó. Nhưng khác với
những người theo Malthus ở Anh, các nước này vẫn dành một khoản ngân sách để
chăm sóc người già và bắt đầu khuyến khích người già tiếp tục làm việc sau tuổi
nghỉ hưu hoặc tăng hạn tuổi nghỉ hưu nhằm tận dụng kinh nghiệm lao động của họ
đồng thời tạo điều kiện cho họ đóng góp cho quốc gia, giảm bớt gánh nặng cho xã
hội. Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ dân số thế giới của Liên Hợp Quốc (UNFPA)
và Tổ chức lao động quốc tế Liên Hợp Quốc (ILO) rất hoan nghênh chính sách này.
Vì vậy, những người ở Nhà số 10 phố Downing nên nghĩ lại vì chính động thái này
của họ đã khiến tổng thống Donald Trump, vì sợ rằng người Anh sẽ đem chính người
dân Mỹ làm "lá chắn sống" để tạo ra sự miễn nhiễm tự nhiên nên ra lệnh
cấm nốt các chuyến bay từ Anh đến Mỹ chỉ 24 giờ sau khi áp dụng biện pháp này với
các nước EU.
Một động thái mới của Mỹ đã
“gây bão” dư luận ngày 16-3-2020 khi tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề nghi một
hợp đồng trị giá 1 tỷ USD để mua lại Công ty dược-hóa-sinh CureVac ở Cộng hòa
Liên bang Đức, qua đó chiếm độc quyền sản xuất vaccine phòng chống COVID-19 từ
Công ty này khi họ đã tiến rất gần tới việc sản xuất đại trà vaccine thương phẩm
phòng chống dịch bệnh toàn cầu hiện nay. Ngay trong ngày 16-3-2020, Thủ tướng Đức
Angela Merkel đã lập tức chủ trì một cuộc họp khẩn cấp với các bộ trưởng nội
các Đức để thảo luận một chiến lược để bảo vệ Công ty CureVac sau khi có tin Mỹ
muốn mua lại công ty này.
Cùng ngày, Chủ tịch Hội đồng
quản trị kiêm giám đốc công ty CureVac Christof Hettich đã lên truyền hình DF để
tuyên bố thẳng thừng rằng công ty của ông sản xuất vaccine phòng chống COVID-19
là để cung cấp cho toàn thế giới chứ không phải chỉ để cung cấp riêng cho người
Đức hay người Mỹ và cam kết sẽ không có kẻ nào chiếm được độc quyền sản xuất
vaccine chống COVID-19 từ công ty này. Vụ việc được phanh phui bởi cách đây bốn
ngày, công ty CureVac tuyên bố Menichella, một người quốc tịch Mỹ, sẽ rời công
ty. Công ty không nói rõ lý do mà chỉ cảm ơn người này vì những đóng góp.
Bộ trưởng Nội vụ Đức Horst
Seehofer đã thẳng thừng phát biểu rằng “Chính phủ Đức không những phải đảm bảo
an ninh biên giới và nguồn lương thực, mà còn phải bảo vệ “dược phẩm của chúng
ta”. Còn ông Karl Lauterbach, một nghị sĩ Đức đồng thời là Ggiáo sư dịch tễ học
nổi tiếng đã viết trên trang Twitter của ông rằng: “Chủ nghĩa tư bản cũng phải
có giới hạn ! Việc bán vắc-xin độc quyền cho người Mỹ phải được ngăn chặn bằng
mọi giá”. Nghị sĩ toàn liên bang Đức Karl Lauterbach, một thành viên của Đảng
Dân chủ Xã hội Đức (SPD) đã thẳng thừng nói rõ: “Chính phủ Mỹ đã thực hiện một
hành động không thân thiện. Nhân viên y tế Đức cũng như người dân toàn thế giới
cần tiếp cận vaccine của Đức. Và không quốc gia nào có quyền sử dụng độc quyền
vaccine chống COVID-19”
Sự việc này càng cho thấy rõ
bộ mặt ích kỷ đến tồi tệ của chính quyền Mỹ và giới “tư bản cá mập” Mỹ muốn độc
chiếm những cơ hội giành lại sự sống cuối cùng của loài người trong cơn đại dịch
COVID-19 nhằm chiếm vị thế thống trị thế giới của chúng. Mặc dù vài quan chức Mỹ
trong đó có Đại sức Mỹ tại Đức cố sức chống chế nhưng quả là qua hoạn nạn mới
thấy rõ lòng nhân; mới thấy rõ ai chính, ai tà; mới thấy rõ bộ mặt của những kẻ
lâu nay vẫn giả nhân giả nghĩa đã lộ ra thế nào !
Còn ở
Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nhiều lần khẳng định rằng Việt
Nam sẽ tiếp tục hy sinh những lợi ích kinh tế trước mắt để cứu lấy tính mạng
người dân. Bởi vì mọi thiệt hại kinh tế đều có thể bù đắp được nhưng tính mạng
của người dân thì không thể lấy gì thay thế được. Những kẻ “ăn trên ngồi chốc”
trong thế giới tư bản quen thói coi mạng người như cỏ rác cũng bầy đàn phản động,
thù địch với Việt Nam đang lưu vong ở nước ngoài không bao giờ hiểu được một
chân lý cực kỳ đơn giản đã được người Việt Nam đúc kết từ cổ xưa. Đó là “NGƯỜI
CÓ THỂ LÀM RA CỦA, CỦA KHÔNG THỂ LÀM RA NGƯỜI”. Hơn nữa, trong số các bệnh nhân
COVID-19 nước ngoài đang được Chính phủ, các bác sĩ và nhân dân Việt Nam tận
tình chăm sóc và cứu chữa trong “làn sóng dịch” thứ hai đánh vào Việt Nam hiện
nay có tới 14 bệnh nhân là người Anh. Xin hỏi ông Boris Johnson và bộ sậu “lang
băm” theo học thuyết Malthus của ông rằng liệu các ông có định thí mạng nốt những
người Anh này để tạo ra sự “miễn dịch bầy đàn” cho người Anh không đây ?
Nhận xét
Đăng nhận xét