Chuyển đến nội dung chính

Hiểu sao cho đúng về lợi ích của chế độ BHXH?

Người nào có đi làm cho công ty đều biết hoặc nghe về khái niệm “lương đóng bảo hiểm” và “lương thực nhận”. Theo đó, “lương BH” là một dạng lách luật, tìm cách tối thiểu hóa số tiền BHXH phải đóng, thường chỉ bằng… 1/4 “lương thực nhận”. Sau này, nhà nước điều chỉnh luật BHXH, công ty cho nhân viên chọn mức đóng BHXH: 50%, 70% hay 100% mức lương ký hợp đồng. Trong khi các đại gia, chủ DN chọn mức 100% thì rất nhiều người lại thích 50% hay thậm chí 0% vì sẽ không bị trừ lương khoản phí đóng BHXH, mà không biết rằng lựa chọn đó đem lại thiệt hại cho chính tương lai của họ, không hiểu được quyền lợi thật sự của mình mà chỉ chăm chăm vào những cái lợi nhỏ, bỏ hình bắt bóng!

Suy nghĩ giản đơn đối với BHXH như thế đã là thiệt thân lắm rồi, còn “kinh hoàng” hơn khi thấy xuất hiện một “bài toán” tính BHXH vô cùng ấu trĩ được chia sẻ rầm rộ trên mạng XH, cùng những bình luận tiêu cực và thiếu hiểu biết trầm trọng.
Nội dung của “bài toán” như sau:
Giờ chúng ta bắt đầu bóc tách vấn đề nhé:
1. Chẳng cần quan tâm đến việc tính toán, chúng ta đã thấy cách đặt vấn đề của “bài toán” này là sai căn bản. Và nói rõ thêm thì năm nào cũng có 01 bài kiểu dạng này lên, năm ngoái (2018) thì bảo lương 5tr, năm trước nữa (2017) là 3tr.... cho nên năm sau (2020) tôi nghĩ con số sẽ được thay lên 15tr đấy, thật đơn giản chỉ cần thay con số là năm nào cũng chăn được 01 đàn "bờ o bo huyền bo`".
Các bạn đừng bị dắt mũi. Tính như thế nào thì mấy bài này cũng loại bỏ hoàn toàn các rủi ro các bác có thể phải nhận trong 30 năm qua. Mà mục đích của bảo hiểm là giải quyết hoặc hạn chế các rủi ro này. Lương hưu chỉ là 1 phần phúc lợi của BHXH thôi.
Đầu tiên, so sánh “bảo hiểm” với “tiết kiệm” đã là một việc làm vô nghĩa bởi bản chất của 2 điều này là khác nhau: "một khoản là phòng ngừa rủi ro và một khoản là đầu tư".
Bảo hiểm là gì? Là một biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại (ở đây là “loại” rủi ro trong lao động). Bảo hiểm (BH) là thứ mà ta đầu tư nhưng không mong sớm nhận được, trừ khi là được nhận khi đáo hạn bởi khi ta sớm “bị” nhận phần đền bù BH, thường là do ta đã gặp phải rủi ro rồi.
Có người bảo rằng không cần BH, mà dùng tiền đó gửi ngân hàng lấy lãi để tự trả lương hưu cho mình. Nhưng như vậy là họ đã tự “chặt” đi một “chân” trong bộ đôi quản lý tài chính cá nhân: "đầu tư (gửi tiết kiệm cũng là một khoản đầu tư lãi suất thấp) và bảo hiểm (quản trị rủi ro)".
Thật ra thì số người không đóng BHXH ở nước ta là rất lớn, tập trung ở những người nông dân, những người kinh doanh tự do hay có công ăn việc làm không ổn định,… Hãy nhìn họ, đại đa số là vẫn phải làm việc để nuôi thân hoặc sống nhờ vào con cái ở độ tuổi mà người khác đang an hưởng tuổi già với đồng lương hưu trí. Họ cũng cố gắng dành dụm tiết kiệm đấy thôi. Có điều, người mà tiết kiệm đủ để không phải lo về khoản thu nhập hàng tháng nữa khi về già thì lại là rất ít, vì đời đâu ngờ được chi phí phát sinh. Không tin thì hãy về vùng quê hỏi thăm các lão nông, ra vỉa hè hỏi thăm các cụ già vì sao họ già rồi mà vẫn cặm cụi làm việc thế thì sẽ biết. Họ đã gặp một rủi ro là loại rủi ro không đủ tiền tiết kiệm cho tuổi hưu trí. Đó là chưa kể đến rủi ro có thể gặp phải trong quá trình lao động. Nếu một XH mà ai cũng có thể tiết kiệm được đủ tiền để tự trang trải cuộc sống sau tuổi hưu thì người ta đã chẳng phải nghĩ đến các chương trình phúc lợi XH làm gì cả. Nhưng thực tế thì đất nước nào cũng phải có hệ thống phúc lợi, và đại đa số NLĐ phải cần đến lương hưu.
Có thể thấy BHXH là bắt buộc đối với lao động trong các doanh nghiệp và các DN sử dụng lao động, chứ không bắt buộc cho những NLĐ tự do (thích thì đóng). Bởi thông qua đạo luật này, nhà nước bắt buộc người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải góp phần vào việc đảm bảo tương lai cho NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc khi không may gặp phải những biến cố bất lợi. Đó chính là vì lợi ích của cả NLĐ và NSDLĐ (giải quyết mâu thuẫn giữa giới chủ và NLĐ để ổn định SX – KD) và là một trong những biện pháp quan trọng để nhà nước xây dựng nền an sinh XH. Đó là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản: "bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nước Phổ năm 1838 và 100 năm sau, năm 1935, đạo luật đầu tiên về An sinh XH (trong đó BHXH là hạt nhân) mới được ban hành tại Mỹ."
Nhiều người bảo thà mùa BHNT còn tốt hơn đóng BHXH, xin thưa rằng:
1- bảo hiểm xã hội là tiêu ngay bây giờ, người lành chi cho người gặp nạn, ngay bản thân khi bị gì cũng dùng được ngay luôn. BHXH là bắt buộc.
2- bảo hiểm nhân thọ là tiết kiệm để lấy lãi và tiêu sau này, là hình thức ngân hàng thương mại tự nguyện. Nếu mua BHNT thì chủ yếu là con cháu hưởng là chính, chứ bản thân người đóng chưa chắc đã hưởng được, bởi phải chờ theo kỳ hạn để ăn lãi suất.
Hai vấn đề hoàn toàn khác xa nhau. Anh không thể so sánh một quả trứng gà luộc hôm nay, với ước mơ nếu không luộc nó sẽ nở và sinh con đẻ cháu đàn đống 40 năm sau.
BHXH đem lại cho NLĐ những lợi ích mà không có khoản tiết kiệm nào có thể đem lại cho họ được chứ không chỉ là khoản lương hưu như “bài toán” mà “cư dân mạng” đang lưu truyền.
Theo luật BHXH Việt Nam thì BHXH bắt buộc sẽ có các chế độ sau:
– Ốm đau
– Thai sản
– Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
– Hưu trí
– Tử tuất

Để dễ hình dung thì, ví dụ thế này: một lao động nữ đóng đầy đủ BHXH, khi nghỉ thai sản 6 tháng theo quy định (mẹ làm giáo viên sẽ được nghỉ 8 tháng), thì họ sẽ vẫn được hưởng lương bằng 100% mức lương đóng bảo hiểm (lấy trung bình 6 tháng gần nhất). Thậm chí, nếu lao động nữ này chỉ nghỉ 4 tháng và đi làm sớm 2 tháng thì họ vẫn lĩnh 6 tháng lương BH kia và thêm 2 tháng lương của DN nữa! Chưa hết, lao động nữ này còn được hưởng 5 lần nghỉ việc (mỗi lần 1 ngày) để đi khám thai, chồng cô ấy cũng được nghỉ việc từ 5 đến 14 ngày để chăm sóc vợ con, mà vẫn có lương (lương BH tính theo ngày). Ngoài ra, còn có cả trợ cấp một lần khi sinh con tương đương với 2 tháng lương BH chung cho mỗi bé. Tương tự, có những quy định riêng về trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… Có sổ tiết kiệm nào cho bạn những lợi ích này?
Về mặt xã hội, BHXH giúp cho NLĐ đảm bảo được cuộc sống của họ khi về già, giảm bớt gánh nặng an sinh XH. Trong hoàn cảnh hiện nay, khi tuổi thọ ngày càng tăng, người già ngày càng đông mà nếu họ không tự lo được cuộc sống cho mình từ đồng lương hưu, có được từ BHXH, thì gánh nặng đó sẽ đổ về đâu ngoài gia đình và ngân sách nhà nước? Khi điều đó xảy ra, mỗi cặp vợ chồng trẻ sẽ phải đảm bảo cuộc sống cho cha mẹ già không có lương hưu, bên cạnh những đứa con thơ. Người già thì phải tiếp tục đi làm kiếm sống, vừa khổ bản thân, vừa vô tình cạnh tranh việc làm với những lứa công dân trẻ mới ra đời. Cái mớ bòng bong đó sẽ gây nên những bất ổn Xã hội.
2. Điều sai cơ bản thứ hai là tác giả “bài toán” đã “tự nhiên” lấy khoản phí đóng của DN để “đút vào túi” của NLĐ. Làm như nếu không phải đóng BHXH thì DN sẽ tặng NLĐ toàn bộ số tiền đó vậy! Nếu thế thì đã đâu có cảnh các DN phải trốn tránh, luồn lách khoản tiền này như vẫn đã và đang xảy ra? Nếu cuộc sống đã tốt đẹp thế thì từ đầu đã đâu có cảnh NLĐ phải đấu tranh suốt hàng trăm năm để đòi quyền lợi cho mình, đã đâu cần đến sự ra đời của BHXH và các hình thức phúc lợi XH khác? Ngoài ra, số tiền 18% lương của NLĐ mà NSDLĐ đóng vào quỹ BHXH cũng được tính vào chi phí DN, tức là nếu không đóng BHXH, DN sẽ phải đóng thuế thu nhập DN trên số tiền này mà theo luật DN Việt Nam hiện nay là 20%. Hiểu theo cách này, trong con số 18% này, ngân sách nhà nước góp (20%*18% = 4%) và DN góp 14%. Như vậy, cơ cấu BHXH sẽ như sau:
– Tổng thu BHXH: Q = 26%*L (lương)
– NLĐ đóng góp: 8%/26% = 31%Q
– DN đóng góp: 14%/26% = 54%Q hoặc 69%Q nếu không xét đến việc thuế TNDN như kể trên.
– Ngân sách góp: 4%/26% = 15%Q

NLĐ đóng góp 31% vào quỹ BHXH nhưng được thụ hưởng 100% lợi ích của quỹ này. Tỷ lệ này ở các nước khác, bao gồm các nước công nghiệp phát triển thường là: 50% NLĐ – 50% DN. Không những vậy, NLĐ ở các nước này còn cố đóng góp thêm vào các quỹ BH hưu trí tư nhân để đảm bảo cho tương lai. Vậy mà có những người được thụ hưởng lại muốn từ bỏ quyền lợi này!?
TÍNH LẠI “BÀI TOÁN” THEO HƯỚNG ĐÚNG
Như vậy, ngay cả khi bỏ lợi ích “bảo hiểm” sang một bên, “bài toán” đang được chia sẻ rầm rộ này cũng phải được tính toán lại.
1. Giả sử giữ nguyên các điều kiện mà bài toán cho, bao gồm:
– Mức lương: 10 triệu / tháng
– Mức đóng BHXH của NLĐ (a) = 8%*10tr = 800.000 đồng.
– Lãi suất 8% năm (r = 0.66%/tháng)
– Kỳ hạn (n): 360 tháng
– Mọi tham số về mức lương, lãi suất, chính sách đều không thay đổi trong suốt quá trình đóng bảo hiểm.

Tổng số tiền NLĐ bỏ ra là: 800.000Đ/th * 360th = 288.000.000 đồng.
Thay vì đóng BHXH, NLĐ đem 8% lương của mình gửi tiết kiệm hàng tháng thì sau 30 năm (360 tháng) đóng liên tục và không rút bất cứ đồng nào ra, số tiền họ sẽ có là:
Công thứ: "A = (a/r)*(1+r)*[(1+r)^n – 1]", cụ thể
A = (800.000/0.66%)*(1+0.66%)*[(1+0.66%)^360 – 1] = 1.180.843.705 đồng.
Như vậy, sau 360 tháng đều đặn đóng 800.000đ/tháng (tổng số tiền nộp là 288 triệu đồng) vào tài khoản TIẾT KIỆM tại ngân hàng, NLĐ để dành được 1.180.843.705 đồng. Cái này là không có lương hưu trí hay quyền lợi gì đâu nhé, sau 30 năm NLĐ có 1 tỷ hơn để sống nốt phần đời còn lại. Dùng số tiền này để gửi tiết kiệm rồi lấy tiền lãi thay lương hưu, lãi suất tiết kiệm không đổi, NLĐ sẽ nhận được: 1.180.843.705 * 0,66% = 7.793.568 đồng/tháng chứ không hề có con số lãi là 24.460.000 đồng/tháng hay là 16.960.000 đồng/tháng như “bài toán” ngây ngô kia...
Và nếu theo bài toán trong ảnh kia thì để đạt con số 24tr hay 16tr lãi hàng tháng *giả tưởng* sau 30 năm không đóng BHXH thì bạn không được đụng đến 1xu nào trong 800.000đ/tháng trong suốt 30 năm, vì theo giả định thì DN đã trả lại 800.000 đồng/tháng cho NLĐ và NLĐ cũng không được dùng số tiền hàng tháng đó trong suốt 30 năm thì mới có được con số 1.180.843.705 đồng để tiếp tục lại đem đi gửi tiết kiệm ngân hàng... tất nhiên là với điều kiện bạn khỏe như voi, không ốm đau, bệnh tật, thương tích thì bạn sẽ có số tiền trên... liệu bạn sẽ sống sót qua bao nhiêu lần để chờ cái ngày 30 năm sau nhìn thấy con số kia ?!
2. Trong khi đó, nếu đóng BHXH, ta có:
Lương hưu hàng tháng = 75%*10.000.000 = 7.500.000 đồng/tháng.
Trường hợp sau khi nghỉ hưu, NLĐ muốn lĩnh lương hưu 1 lần thì họ sẽ nhận được số tiền là:
M = số năm đóng BH * hệ số * lương BH = 30*2*7.500.000 = 450.000.000 đồng.
Số tiền này nhiều hơn số tiền NLĐ đã đóng là 450tr – 288tr = 162tr, mà quan trọng nhất là NLĐ vẫn nhận được đầy đủ quyền lợi BHXH của mình trong suốt quá trình lao động trước đó.
Trường hợp NLĐ nhận lương hưu hàng tháng thì các lợi ích họ nhận được sẽ là:
– Tổng tiền hưu nhận được (giả sử NLĐ sống thêm 20 năm sau khi nghỉ hưu): 7.50tr*20*12 = 1.8 tỷ (1.800.000.000 đồng)!
– Trợ cấp mai táng, trợ cấp tuất theo luật định. (cái này ai đóng mới được hưởng)
Như vậy với số tiền 8% lương hàng tháng, NLĐ được hưởng những lợi ích BH trong suốt thời gian lao động, lại được an tâm cuộc sống lúc tuổi già với số tiền gấp nhiều lần số tiền bỏ ra... còn nếu không đóng và bắt buộc DN phải trả lại thì trong 30 năm làm việc NLĐ chẳng hưởng được quyền lợi gì, mọi thứ đều tự túc cả nhé, cơ mà trong 30 năm ấy chả lẽ không có chuyện gì xảy ra để phải tiêu số tiền 800.000đ/tháng đó!
CHÍNH SÁCH LƯƠNG HƯU MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Nói về lợi ích của BHXH Việt Nam, thiết nghĩ cũng cần phải so sánh với chính sách BHXH ở các nước khác trên thế giới bởi nói chuyện với dân Việt mình bây giờ thì cứ phải “thế giới họ thế này, họ thế kia” kẻo người ta không tin hoặc lại bảo Việt Nam là “ốc đảo của thế giới” như ông ĐBQH Dương Trung Quốc từng phát biểu. Sau đây là một số thông tin về chính sách lương hưu của loại BHXH bắt buộc (vì ở 1 số nước có nhiều hình thức bảo hiểm hưu trí tự nguyện bổ sung) ở một số nước trên thế giới:
1. ĐỨC
- Mức đóng BH hiện nay là 18,7% lương tháng NLĐ, trong đó NLĐ và NSDLĐ đóng theo tỷ lệ 50 – 50.
- Tuổi hưu ở Đức hiện là 65 và đang điều chỉnh tăng lên tuổi 67.
Mức tối đa của lương hưu là 67% lương đóng BH.
2. PHÁP
- Mức đóng BH: thu 6,65% lương từ NLĐ và 8,3% từ NSDLĐ.
- Mức lương hưu nhận được không quá 50% lương cao nhất trước khi nghỉ hưu và không quá 35.000€/năm.
3. MỸ
- Người già ở Mỹ được hưởng tiền trợ cấp tuổi già từ quỹ Social Security. Đối với người đã từng đi làm, mức tiền trợ cấp tuổi già được tính từ số năm đi làm và mức lương trong những năm đó, tương tự như BHXH ở Việt Nam. Người lãnh lương sẽ trích lại 6,2% lương và người trả lương góp thêm 6,2% lương nữa để nộp vào quỹ Social Security (50%-50%).
- Nhiều người Mỹ tự lập kế hoạch hưu trí cho mình qua kế hoạch 401(k) vì không thể hoàn toàn dựa vào quỹ Social Security . Theo kế hoạch 401(k), mỗi người tự quyết định sẽ trích bao nhiêu phần trăm lương của mình để gửi vào tài khoản hưu trí. Tài khoản hưu trí đó sẽ được giao cho các công ty quản lý quỹ hoặc công ty BH nhân thọ quản lý, sinh lợi. Công ty quản lý quỹ thường tạo ra vài quỹ đầu tư khác nhau về mức lợi nhuận và rủi ro để người chủ tài khoản chọn theo ý riêng. Số tiền trích vào quỹ hưu trí sẽ không chịu thuế thu nhập cho tới khi được rút ra dùng.
4. NHẬT
- Mỗi người thường trú ở Nhật đóng vào quỹ hưu trí cho nhà nước quản lý hàng tháng một số tiền bằng nhau. Ví dụ trong năm tài chính 2010, mức đóng là 15.000¥/tháng. Nếu vì lý do thu nhập thấp, không thể đóng đủ số tiền trên thì phải đăng ký miễn/giảm với chính quyền địa phương. Từ tuổi 65 trở đi, người đã tham gia hệ thống hưu trí từ 25 năm trở lên sẽ được nhận lương hưu, mức lương hưu nhận được tuỳ theo số năm tham gia hệ thống.
- Ví dụ trong năm tài chính 2010, người đã tham gia 40 năm sẽ nhận được 792.100¥/năm (gần 7.000USD/năm). Có thể thấy mức lương hưu ở Nhật thấp so với GDP trên mỗi đầu người 45.870USD. Người Nhật phải tự tích luỹ quỹ hưu trí riêng, và họ thường để tiền trong các tài khoản tiết kiệm ngân hàng hay bưu điện hơn là để trong quỹ đầu tư.
5. THÁI LAN
Tại Thái Lan, mức đóng BHXH của NLĐ là 3%, người sử dụng lao động là 3% nhưng mức hưởng lương hưu của họ chỉ khoảng 20% tiền lương đóng BHXH. Nếu so sánh tỷ lệ đóng và hưởng giữa Thái và Việt Nam, ta có:
6. Thái:
NLĐ đóng 3% hưởng 20%, theo tỷ lệ này, nếu NLĐ đóng 8% như ở VN thì sẽ hưởng mức lương hưu là (8%*20%/3%) = 53%, thấp hơn mức 75% của Việt Nam.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA BHXH VIỆT NAM
Hiện tại, tỷ lệ NLĐ tham gia BHXH còn thấp, dẫn đến nguồn thu của quỹ BHXH bị hạn chế. Số lượng người đóng BHXH hiện nay không nhiều, chỉ có khoảng 20% lao động có đóng BHXH, trong khi đó có tới 78% lao động nằm trong diện bắt buộc phải đóng. Nguyên tắc của BH là số lượng người tham gia càng đông thì rủi ro càng được chia sẻ nhiều. Mà “tiền đẻ ra tiền” nên vốn càng lớn, quỹ càng có khả năng tăng trưởng nhanh. Như vậy sẽ góp phần xây dựng nền an sinh XH bền vững.
Mức đóng BH hiện nay được cho là cao, đặc biệt là đối với các DN. Điều này cũng dẫn đến việc giảm lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư, tăng nguy cơ trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH của DN. Thay vào đó, BHXH cần có biện pháp tăng cường tuyên truyền thu hút NLĐ tham gia BH để lấy lượng bù giá, từ đó điều chỉnh mức phí BH cho phù hợp.
Các cơ quan quản lý nhà nước hiện chưa có biện pháp xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật BHXH của các DN khi không tham gia đóng BHXH cho NLĐ hay nợ đọng tiền BHXH. Hệ quả là bản thân NLĐ bị thiệt thòi, cũng như gây khó khăn không nhỏ cho vấn đề an sinh XH sau này.
Lợi ích bảo hiểm của NLĐ có chiều hướng suy giảm: trước đây nếu đóng BHXH đủ 20 năm thì hưởng lương hưu bằng 55% mức lương BHXH, nay con số này là 45%, tức là để hưởng mức lương hưu tối đa (75% mức lương BHXH), NLĐ phải đóng BHXH đủ 35 năm so với 30 năm trước kia; tuổi hưu của NLĐ đang được điều chỉnh tăng. Mặc dù như phân tích ở trên, lợi ích từ BHXH Việt Nam vẫn tốt hơn nhiều nước khác nhưng nếu các lãnh đạo BHXH cứ căn cứ vào chính sách của các nước khác để xây dựng chính sách cho BHXH Việt Nam thì chúng ta sẽ sớm tiệm cận với họ và quan trọng là xa rời “định hướng XHCN”.
Chưa kể NLĐ đã đấu tranh cả trăm năm để rồi năm 1838, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở Phổ (Cộng hòa liên bang Đức). Trải qua 180 năm máu và nước mắt trong cuộc đấu tranh dai dẵng giữa người lao động và giới chủ tư bản. Ngày nay luật BHXH được coi là quyền lợi thiết và bắt buộc phải có để bảo vệ quyền lợi người lao động. Dù mang nhiều lợi ích nhưng vì thiếu hiểu biết nhiều người lao động tỏ ra xem nhẹ, hoặc không được đóng bảo hiểm theo quy định của Nhà nước. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho người lao động mà còn tạo ra gánh nặng xã hội, khi lực lượng lao động bước vào tuổi nghỉ hưu, khi tuổi thọ tăng, dân số ngày càng già đi còn lực lượng lao động lại có xu hướng giảm do tỉ lệ sinh thấp.
Tóm lại, mặc dù BHXH Việt Nam có những hạn chế nhất định của nó thì đối với NLĐ, đây là một quyền lợi cơ bản và tối quan trọng. Cần phải hiểu rằng, đã có nhiều thế hệ NLĐ trên toàn thế giới phải đấu tranh bằng máu và nước mắt để giành lấy quyền lợi này nên những NLĐ hiện nay cần phải nắm chặt lấy nó, phát triển nó lên chứ không phải là từ chối nó như những lời kêu gọi thiếu hiểu biết và đầy ác ý trên!
Kết: Dù mang lợi ích thiết yếu như vậy, nhưng tại sao lại xuất hiện những bài viết kêu gọi không tham gia BHXH như bài toán trên. Nếu tìm hiểu xâu hơn bạn sẽ thấy rằng, những bài viết dạng này thường xuất hiện trên các website, facebook của các thành phần bất mãn, trở cờ hoặc chống cộng. Phần lớn chúng được che đậy bằng cái bản mặt "nhà dân chủ", "nhà hoạt động nhân quyền, dân quyền" nhưng tất cả chúng đều đa số là những người thất bại trong cuộc sống, những người hiện chả có nghề nghiệp gì ngoài kiếm flame để nhận tiền từ các NGOs.
Xúi giục người lao động không tham gia BHXH là một phần trong thủ đoạn mà chúng gọi là "bất tuân dân sự, cách mạng màu sắc". Trước mắt chúng tạo thói quen chống đối cho người dân chống đối với các chính sách, quy định của Nhà nước, về lâu dài chúng gieo vào lòng xã hội nầm móng bất ổn mà không ai hết chính chúng ta là những người gánh chịu hậu quả đầu tiên.
Đây chính là mầm mống của suy thoái và bất ổn. Hãy nhìn cảnh người cao tuổi Hàn Quốc phải bán dâm kiếm sống, ở Nhật người già phải tìm cách phạm pháp để được vào tù tìm nơi nương tựa, thì liệu rằng sẽ có bao nhiêu người cao tuổi Việt Nam(tức là phần lớn chúng ta trong khoảng 40 năm nữa) phải ra đường ở nếu không có BHXH, khi tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, con cái không thể cáng đáng cho chúng ta được nữa. Một viễn cảnh chẳng mấy tốt lành nhưng khả năng cao là sẽ xảy ra nếu chúng ta không ý thức được tầm qua trọng của BHXH.
Thực ra, họ hoàn toàn không thất nghiệp, thay vì chọn một nghề đàng hoàng trong xã hội tuy lương không cao như bao người khác nhưng được cái vẫn ăn uống, coffe, nhậu nhẹt với bạn bè được thì họ lại chọn chống phá Nhà nước và ăn tiền ngoại bang kiếm sống hòng kiếm một xuất định cư nước ngoài, để trốn tránh cái quá khứ thất bại ở quê nhà, nhưng bài học cay đắng là những kẻ đi trước thì hiện đang ất ơ bên Mỹ, Đức, Pháp, Úc... cũng chả nghề nghiệp gì hàng tháng nhận trợ cấp xã hội (trích từ thuế của dân Mỹ đóng) sống qua ngày, còn số đông sau này thì hiện đang lang thang ở Thái, Sing, Đài Loan... chưa kể mới nhất vài đối tượng trốn qua Thái hòng kiếm xuất qua Mỹ nhưng bị Cục Di trú Mỹ từ chối, kết quả ở Thái quá hạn Visa cũng chẳng còn tiền bạc gì nhưng không về Việt Nam được nên đành đi ăn quỵt, sống chui và giờ đang ở trong tù bên Thái.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

LÒNG YÊU NƯỚC HAY TIẾP TAY CHO GIẶC? (P1)

Tôi không biết có “công cụ” nào để đo “lòng yêu nước” hay không. Ví dụ như, anh A yêu nước hơn anh B 1.000.000 gram chẳng hạn. Vậy nên, cũng sẽ khó để nói rằng, ai yêu nước hơn ai. Tranh luận về lòng yêu nước, có lẽ nên gọi thẳng hành vi, chỉ thẳng thái độ và ngôn từ, đồng thời, chỉ rõ những “ẩn ý” của ngôn từ… thì sẽ rõ ràng hơn về cái gọi là: “Yêu nước”. Về khái niệm: Yêu nước là gì?

LÊ VĂN DŨNG (DŨNG VOVA) VÀ NHỮNG CHIÊU TRÒ BẨN THỈU

Lê Văn Dũng (Dũng Vova) sinh ngày 10/10/1970, trú tại 54B Hà Trì, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Lê Văn Dũng là một trong những kẻ cầm đầu nhóm phản động “NoU Hà Nội” (Nhóm đã chia sẻ rất nhiều bài của RFA và BBC,… và tự cho rằng hành động biểu tình tự phát của chúng là thể hiện tinh thần yêu nước, yêu dân tộc), Hội bầu bí tương thân, thường xuyên tham gia biểu tình “chống Trung Quốc”. Lê Văn Dũng được biết đến là một kẻ “già đầu” chuyên chống phá chính quyền quyết liệt thông qua việc tung tin đồn thất thiệt, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vu cáo chính quyền.

LÒNG YÊU NƯỚC HAY TIẾP TAY CHO GIẶC? (P2)

Thế cái Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết gì? Đầu tiên, phải quay lại cái “nguồn gốc” phát sinh ra cái Công hàm kia… đó là Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 04/09/1958. Cụ thể nội dung bản tuyên bố: "Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố: